Việt Nam đã có 27,2 triệu thuê bao 5G

Tạp chí Nhịp sống số - Tháng 9/2025 Việt Nam mới có hơn 14 triệu thuê bao 5G, nhưng đến tháng 8/2026 đã đạt 27,2 triệu, tăng khoảng 94%...
thuê bao 5G

Tính đến tháng 8/2026, tốc độ băng rộng cố định của Việt Nam đạt 301,48 Mbps, xếp thứ 8/149 quốc gia, vùng lãnh thổ; băng rộng di động đạt 219,93 Mbps, xếp thứ 9/102.

Trong khi cùng kỳ năm 2025, tốc độ băng rộng cố định đạt 250,45 Mbps và băng rộng di động 151,69 Mbps, lần lượt đứng thứ 13 và thứ 18 thế giới.

Như vậy, chỉ sau một năm, tốc độ băng rộng cố định đã tăng khoảng 20,4%, còn tốc độ di động tăng tới 45%, và thứ hạng quốc tế cũng được cải thiện mạnh.

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, tốc độ băng rộng cố định 301,48 Mbps cho thấy hiệu quả của quá trình đầu tư vào cáp quang, truyền dẫn và nâng cấp mạng truy nhập. Trong khi đó, tốc độ di động tăng nhanh phản ánh tác động hiệu quả của quá trình thương mại hóa 5G.

Nếu tháng 9/2025 Việt Nam mới có hơn 14 triệu thuê bao 5G thì đến tháng 8/2026 con số đã đạt 27,2 triệu, tăng khoảng 94%.

Bộ Khoa học và Công nghệ xác định Internet không còn đơn thuần là hạ tầng kỹ thuật mà đã trở thành hạ tầng của tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội; IPv6, đặc biệt định hướng IPv6-Only, được xem là nền tảng để mở rộng không gian kết nối cho con người, dữ liệu, thiết bị và các hệ thống thông minh.

Từ mức 65% trong 9 tháng 2025, tỷ lệ sử dụng IPv6 đã tăng lên 67% vào tháng 9/2026, tiếp tục đứng thứ 2 ASEAN và cải thiện vị trí lên thứ 7 toàn cầu.

Cùng với đó, 703.236 tên miền ".vn", tăng 5,7% so với cùng kỳ, cho thấy sự gia tăng hiện diện trực tuyến của tổ chức, doanh nghiệp, hộ kinh doanh và người dân. VNNIC hiện xác định tên miền ".vn" là một thành tố quan trọng của hệ sinh thái Internet quốc gia, phục vụ xây dựng hiện diện trực tuyến tin cậy.

Mạng 5G tạo điều kiện cho doanh nghiệp sản xuất kết nối máy móc theo thời gian thực, trong khi băng rộng cố định tốc độ cao hỗ trợ trung tâm dữ liệu, làm việc từ xa, thương mại điện tử và các dịch vụ số.

Với doanh nghiệp, chất lượng kết nối tốt hơn đồng nghĩa với giảm chi phí giao dịch, mở rộng thị trường và tăng khả năng cung cấp dịch vụ xuyên biên giới. Với nền kinh tế, đó là điều kiện để hình thành các mô hình kinh doanh dựa trên dữ liệu và công nghệ.

Từ ngày 16/9, các doanh nghiệp viễn thông di động đã chính thức dừng hoàn toàn mạng 2G (trừ khu vực đặc thù như Trường Sa, Hoàng Sa, nhà giàn DK1) để thu hồi băng tần (900MHz, 1800MHz) phục vụ 4G/5G.

Đây không đơn thuần là việc tắt một công nghệ cũ, mà là quá trình tái phân bổ nguồn lực hạ tầng từ công nghệ có hiệu suất thấp sang các thế hệ mạng mới, đặc biệt là 4G và 5G.

Khi người dùng chuyển sang thiết bị hỗ trợ băng rộng, không gian để phát triển các dịch vụ số cũng được mở rộng. Người dân có thể tiếp cận tốt hơn với dịch vụ công trực tuyến, thanh toán số, y tế, giáo dục, thương mại điện tử và các nền tảng số khác.

Đồng thời, quá trình này đặt ra yêu cầu bảo đảm tính bao trùm: người cao tuổi, người thu nhập thấp, người ở vùng sâu, vùng xa cần được hỗ trợ để không bị bỏ lại phía sau trong quá trình chuyển đổi công nghệ.

Một trong những nhiệm vụ còn lại của ngành viễn thông là hoàn thiện tính phổ cập của hạ tầng. Sau nhiều năm đầu tư, đến nay còn 273 thôn lõm sóng cần tiếp tục phủ sóng.

Con số này nhỏ hơn đáng kể so với quy mô "lõm sóng" từng tồn tại trước đây, nhưng lại là nhóm khó xử lý nhất, thường gắn với địa hình phức tạp, dân cư phân tán hoặc thiếu hạ tầng điện. Vì vậy, việc hoàn thành phủ sóng các khu vực này có ý nghĩa không chỉ về viễn thông mà còn về bình đẳng trong tiếp cận các cơ hội phát triển số.

Trong 9 tháng đầu năm 2026, tốc độ Internet của Việt Nam nằm trong nhóm dẫn đầu thế giới, thuê bao 5G tăng nhanh, IPv6 tiếp tục mở rộng, tên miền quốc gia tăng trưởng và 2G được dừng trên toàn quốc là những dấu mốc của quá trình hiện đại hóa hạ tầng viễn thông Việt Nam.

Tuy nhiên, thước đo cuối cùng không chỉ là thứ hạng tốc độ. Giá trị lớn hơn nằm ở việc biến năng lực kết nối thành năng suất, dịch vụ số, mô hình kinh doanh mới và cơ hội tiếp cận bình đẳng hơn cho người dân.

Vì vậy, Bộ Khoa học và Công nghệ khẳng định giai đoạn tiếp theo của ngành viễn thông sẽ không chỉ là "nhanh hơn", mà phải là "thông minh hơn, an toàn hơn, phổ cập hơn và tạo ra nhiều giá trị kinh tế - xã hội hơn".

Có thể bạn quan tâm